LỜI MỞ ĐẦU
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự, ở mỗi vụ án, không phải lúc nào người bị nghi thực hiện tội phạm hay bị can, bị cáo đều hợp tác, thành khẩn khai báo để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Trong một số trường hợp, sau khi tội phạm bị phát hiện, chính họ sẽ có các hành vi tiếp sau để che giấu hành vi phạm tội của mình, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hay tiếp tục thực hiện hành vi mới. Do đó, để hạn chế tình trạng này, Bộ luật Tố tụng hình sự đã cho phép cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được phép áp dụng một số biện pháp ngăn chặn đối với các đối tượng này khi có đủ căn cứ quy định. Điều này góp phần đảm bảo được thời gian giải quyết vụ án không bị kéo dài, việc xử lý hành vi phạm tội, người phạm tội là đúng theo quy định, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án, tránh làm oan sai hay bỏ lọt tội phạm.
Trên cơ sở đó, tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) dựa trên tinh thần kế thừa những quy định sẵn có từ các bộ luật trước đó đã quy định về 08 biện pháp ngăn chặn với các mức độ nghiêm khắc khác nhau cùng với những điều kiện áp dụng riêng biệt. Trong đó, biện pháp tạm giam được đánh giá là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, áp dụng phổ biến nhất với hầu hết các loại tội phạm, từ ít nghiêm trọng – nghiêm trọng – rất nghiêm trọng – đặc biệt nghiêm trọng. Quy định về biện pháp này trong Bộ luật Tố tụng hình sự là rất đầy đủ ở nhiều điều luật khác nhau, trong đó tập trung nhất là tại Điều 119. Mặc dù vậy, việc áp dụng biện pháp tạm giam trong thực tế đôi lúc vẫn mang tính tùy nghi, dẫn đến việc xâm phạm đến quyền con người của bị can, bị cáo, hoặc một số quy định vẫn mang tính bỏ ngỏ dẫn đến những cách hiểu khác nhau khi áp dụng.
Vì các lý do trên, ở tiểu luận này, em sẽ “Phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024, 2025) về biện pháp tạm giam”, từ đó chỉ ra một số bất cập cùng với kiến nghị liên quan để góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng của biện pháp này trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

