LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong công cuộc cải cải cách và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, không chỉ đòi hỏi phải quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật mà còn đòi hỏi phải áp dụng pháp luật một cách thống nhất. Việc áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án thể hiện chỗ những vụ việc giống nhau thì phải được xử một cách giống nhau, tức phải hướng đến sự công bằng.
Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xác định: “Tòa án nhân dân tối cao Có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Quy định về nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tại Điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 ghi rõ: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.
Quá trình thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp, Đảng đã đề ra quan điểm cần phát triển án lệ và áp dụng án lệ trong xét xử. Điều này phù hợp với thông lệ quốc tế và góp phần tháo gỡ những khó khăn của thực tiễn xét xử. Quan điểm của Đảng cũng đã được cụ thể hóa thành những quy định cụ thể trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và các luật tố tụng.
Án lệ được sử dụng trong những vụ việc có tình tiết và sự kiện pháp lý giống nhau để thống nhất giải quyết vụ việc đúng pháp luật. Đây cũng là những vụ việc được Tòa án nhân dân tối cao chọn lọc qua các quy trình xét duyệt để trở thành vụ việc mẫu mực, áp dụng cho các thẩm phán giải quyết những vụ việc có tình tiết tương tự[1]. Tại nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 10 năm 2015 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nghị quyết về án lệ. Đây là lần đầu tiên Việt Nam công nhận và xây dựng cho riêng mình một quy trình tuyển chọn và áp dụng án lệ. Việc tuyển chọn và áp dụng án lệ của Việt nam có nhiều điểm tương đồng với thế giới nhưng cũng có nhiều khác biệt; Khác biệt từ việc xây dựng án lệ được tuyển chọn bởi Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khác biệt từ việc áp dụng án lệ là yêu cầu trước tiên đối với thẩm phán xét xử các loại án; Khác biệt từ ý niệm pháp luật Việt Nam là hệ thống dân luật thành văn chịu ảnh hưởng nhiều của truyền thống pháp luật Xô Viết không coi án lệ là nguồn của luật, đa phần người dân chưa hiểu án lệ là gì và việc nhận thức về án lệ chưa nhiều; Khác với hệ thống dân luật thành văn của các nước tiên tiến có hệ thống pháp luật tiên tiến ở Châu Âu như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức.
Thực tiễn xét xử các vụ việc nói chung, các vụ việc dân sự nói riêng cho thấy còn nhiều bất cập. Còn rất nhiều vụ việc dân sự Có những quan điểm khác nhau trong đường lối giải quyết. Việc áp dụng pháp luật mỗi địa phương, mỗi cấp Tòa án, mỗi Thẩm phán với cùng một nội dung còn khác nhau. Dẫn đến tình trạng án bị hủy, sửa nhiều, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm sút uy tín của Tòa án. Việc áp dụng án lệ trong quá trình giải quyết vụ việc là một bước tiến mới trong quá trình cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta, vì án lệ mang tính thực tiễn cao, có khả năng khắc phục những lỗ hổng pháp luật một cách nhanh chóng và kịp thời.
Chính từ thực tiễn đó, tác giả của bài tiểu luận đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu đề tài “Áp dụng Án lệ trong giải quyết vụ việc dân sự: Một số hạn chế, vướng mắc và kiến nghị giải pháp hoàn thiện”.
[1] Đặng Thị Thơm và Nguyễn Đình Phong “Vai trò của án lệ và kinh nghiệm áp dụng án lệ của một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 5/2013, tr.16.


