ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu thế hội nhập với thế giới hiện nay, các tranh chấp thương mại quốc tế về chống bán phá giá ngày càng trở nên phức tạp và phổ biến khi mà thuế chống bán phá giá đang được nhiều quốc gia, trong đó chủ yếu là các nước phát triển, sử dụng như một rào cản trong thương mại và bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa. Hầu hết các nước thành viên của WTO đều áp dụng thuế chống bán phá giá theo Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994. Điều khoản này quy định: “Nhằm triệt tiêu tác dụng hay ngăn ngừa việc bán phá giá, một bên ký kết có thể đánh vào bất cứ một sản phẩm được bán phá giá nào một khoản thuế chống bán phá giá nhưng không lớn hơn biên độ bán phá giá của sản phẩm đó”. Trong thương mại quốc tế, khi hàng hóa bị xem là bán phá giá thì chúng có thể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá như thuế chống phá giá – là biện pháp được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu bổ sung đánh vào những hàng hóa bị bán phá giá ở nước nhập khẩu nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bán phá giá đưa đến cho ngành sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng trong thương mại (nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước). Thuế này đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế áp đặt chung cho hàng hóa của một quốc gia.
Như vậy, không phải bất kỳ trường hợp bán phá giá nào cũng bị áp đặt thuế chống bán phá giá. Theo Điều VI Hiệp định GATT năm 1994 cũng như luật pháp của rất nhiều nước thì thuế chống bán phá giá chỉ được áp đặt khi hàng hóa được bán phá giá gây thiệt hại đáng kể hay đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu. Nếu một hàng hóa được xác định là có hiện tượng bán phá giá nhưng không gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất mặt hàng đó ở nước nhập khẩu thì sẽ không bị áp đặt thuế chống bán phá giá và các biện pháp chống phá giá khác.
Trước thực trạng nói trên, các thành viên WTO bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với việc áp dụng thuế chống bán phá giá, đã tích cực sử dụng những cơ chế thích hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Bên cạnh đó, thực tiễn tham gia của Việt Nam trong việc áp dụng thuế chống bán phá giá và trong các vụ tranh chấp về thuế chống bán phá giá đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với việc nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật quốc tế trong việc áp dụng và giải quyết tranh chấp về thuế chống bán phá giá tại WTO, học hỏi kinh nghiệm của các nước cũng như xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan ở trong và ngoài nước, để từ đó có thể rút ra bài học cho Việt Nam, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc áp dụng thuế chống bán phá giá theo quy định tại Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994.
Xuất phát từ thực tiễn tham gia của Việt Nam và các nước thành viên WTO khác vào việc áp dụng thuế chống bán phá giá theo Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994, cũng như thấy được tính cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề này, em quyết định chọn đề tài: “Phân tích thực trạng áp dụng Điều VI khoản 2 Hiệp định GATT năm 1994 và rút ra bài học cho Việt Nam” để đi sâu nghiên cứu.

