LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay nền kinh tế thế giới đã có sự phát triển vượt bậc. Chỉ riêng ở Việt Nam, đầu năm 2021, Chính phủ đã giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xây dựng Nghị quyết về phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030, với mục tiêu đến năm 2025 cả nước có 1,3 – 1,5 triệu doanh nghiệp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2020, Việt Nam có khoảng 810 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động. Để đạt mục tiêu trên, theo tính toán, trong 5 năm liền, tốc độ tăng trưởng số lượng doanh nghiệp phải đạt từ 12-14%/năm. Tính ra, mỗi năm sẽ có thêm khoảng 100.000 – 150.000 doanh nghiệp mới đi vào hoạt động (Phan Linh, 2021). Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của thị trường thế giới nói chung và trong nước nói riêng, cũng như nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, hình thức công ty cổ phần ra đời và ngày càng trở nên phổ biến rộng rãi.
Tại Việt Nam, kể từ khi chủ trương đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng và Nhà nước đưa ra, các tổ chức, cá nhân càng có thêm nhiều cơ hội để phát huy được toàn bộ tiềm năng sản xuất và kinh doanh. Từ đó, hình thức công ty cổ phần ngày càng chứng minh được vài trò quan trọng của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nhận thức được vị thế quan trọng của công ty cổ phần trong nền kinh tế, pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp lý, chế định liên quan, tạo cơ sở pháp lý chung để Nhà nước cũng như loại hình doanh nghiệp này có thể áp dụng thực tiễn vào công ty, nhằm mục đích làm cho bộ máy vận hành có hiệu quả, đóng góp ích lợi cho nền kinh tế nước nhà. Không chỉ vậy, Việt Nam còn tiếp cận với bộ luật hiện hành về công ty cổ phần của các quốc gia khác, không ngừng học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm pháp luật công ty của các nước phát triển trên thế giới.
Tuy nhiên, từ thực tiễn kinh doanh cho thấy, bên cạnh các ưu điểm nổi trội, loại hình công ty cổ phần còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Nhiều vấn đề như các quy định của pháp luật điều chỉnh về loại hình công ty này đang tồn tại khá nhiều bất cập. Bên cạnh đó, với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội đất nước và nhu cầu mở rộng, hội nhập quốc tế ngày càng cao, pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần đang bộc lộ nhiều vấn đề cần được hoàn thiện, chỉnh lý và bổ sung kỹ lưỡng để loại hình công ty cổ phần có thể phát triển tốt trong môi trường thương mại Việt Nam.
Ngày nay, thế giới đang chứng kiến việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng, cùng với đó là xu hướng toàn cầu hóa đang phát triển cực kỳ mạnh mẽ. Trong những năm qua, quan hệ kinh tế, thương mại và lao động giữa Việt Nam và Nhật Bản không ngừng phát triển, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Nhật Bản là một trong những nước sớm thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Với sự vun đắp của nhiều thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước qua nhiều thời kỳ, quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam và Nhật Bản đã và đang phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ trên các lĩnh vực, đặc biệt là từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á, năm 2014. Việt Nam và Nhật Bản cũng hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn, cơ chế đa phương ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu, như Liên Hợp Quốc, hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mekong; tích cực phối hợp trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, thúc đẩy liên kết kinh tế, tự do hóa thương mại thông qua việc ký kết và thực thi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) (Hải Minh, 2023).
Có thể khẳng định, sự tương đồng về văn hóa, mối liên hệ lịch sử, cùng tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước, sự chia sẻ nhiều lợi ích chung đã gắn kết chặt chẽ mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản. Chính sự tương đồng ấy cũng là yếu tố để chúng ta có thể học hỏi được những điều tiến bộ của nước bạn, đặc biệt là về quy định pháp luật hiện hành. Do vậy, việc nghiên cứu và so sánh luật về công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản và Việt Nam nhằm tìm những ưu điểm, cũng như nhược điểm trong hệ thống pháp luật của hai quốc gia, từ đó rút kinh nghiệm làm bài học và hoàn thiện các vấn đề pháp lý liên quan đến công ty cổ phần tại Việt Nam là hết sức cần thiết.
Nhận thức được những vấn đề trên, nhóm nghiên cứu đã quyết định lựa chọn “Quy định về công ty cổ phần theo pháp luật Nhật Bản và liên hệ với pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.



