Trang chủ
»
Chủ đề nghiên cứu

Chủ đề: Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 1988

Điều 62. Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam

1. Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người:

  1. Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;
  2. Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;
  3. Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở lên chủ toạ phiên toà;
  4. Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên. Trong trường hợp này lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2. Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.

Người thi hành lệnh phải đọc và giải thích lệnh cho người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.

Khi tiến hành bắt người, phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến.

3. Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang quy định tại Điều 63 và Điều 64 Bộ luật này.

Lưu ý: Điều luật này đã bị thay thế bởi Điều 80 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003.

Hiện có 0 tài liệu hướng dẫn áp dụng và tài liệu liên quan đến Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 1988

TOP 10 Tài liệu pháp luật mới nhất