LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam đã trải qua nhiều năm tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã thu được những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt kinh tế và xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và ngày càng nhanh chóng như hiện nay, quốc gia nào muốn phát triển phải đi nhanh vào nền kinh tế tri thức. Bởi vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là bước đi tất yếu mà Việt Nam sẽ phải trải qua. Qua mỗi kỳ Đại hội Đảng đều đưa ra những chủ trương, đường lối, chính sách thiết thực nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay. Chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo của Việt Nam, các mô hình kinh tế mới đã hiện diện và phát triển tại Việt Nam trong thời gian qua. Nhiều doanh nghiệp đã tiên phong đẩy mạnh đầu tư, đổi mới công nghệ, mô hình kinh doanh theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh đó, một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn cũng đã chủ động chuyển đổi, đầu tư mạnh mẽ các ngành công nghiệp mới.
Cùng với đó, chú trọng phát triển Đảng trong doanh nghiệp. Phát triển văn hóa doanh nghiệp, xây dựng đội ngũ doanh nhân đủ tài, đức, tâm, tầm. Đặc biệt, đề cao đạo đức doanh nhân, hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Các hiệp hội, hội phát huy vai trò hỗ trợ doanh nghiệp và làm tốt công tác phản biện các chính sách, là cầu nối của doanh nghiệp với Đảng và Nhà nước. Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định nhiệm vụ của tổ chức Công hội “trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”[1].
Công đoàn là tập hợp, giáo dục công nhân, lao động tạo thành lực lượng nòng cốt trong đấu tranh giành chính quyền và xây dựng đất nước. Công đoàn có vai trò to lớn trong việc vận động công nhân lao động thi đua sản xuất, tiết kiệm làm ra nhiều của cải cho đất nước. Công đoàn có nhiệm vụ chăm lo đời sống vật chất, văn hóa của công nhân, lao động. Tại Điều 10, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2].
Hiện nay trên thực tế, khi tổ chức công đoàn công khai bảo vệ quyền lợi cho người lao động, thường gặp phải sự ngăn cản của chủ doanh nghiệp, vì công đoàn cũng trực tiếp hưởng quyền lợi từ ông chủ. Do đó luật phải tăng sức mạnh cho công đoàn trong doanh nghiệp, để họ có đủ điều kiện bảo vệ người lao động. Cụ thể về vấn đề đình công khi xảy ra đình công sẽ gây bất lợi cho người sử dụng lao động, người lao động, cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đình công còn gây tác động xấu đến dư luận xã hội, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế và môi trường đầu tư ở địa phương có đình công xảy ra nói riêng và Việt Nam nói chung. Nguyên nhân dẫn đến những cuộc đình công nói trên đều xuất phát từ lý do rất quen thuộc: khúc mắc về hợp đồng lao động, về phụ cấp và các chế độ theo lương, về cách đối xử của người sử dụng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, bảo hiểm và quyền lợi trong việc tham gia và hưởng các chế độ từ tổ chức công đoàn. Thực tế cho thấy cán bộ công đoàn cơ sở chưa nắm được đầy đủ tâm tư nguyện vọng của người lao động nên không kịp phản ứng khi bức xúc lên đến cao trào. Khi bức xúc của người lao động là chính đáng thì phải thương lượng ngay với người sử dụng lao động để giải quyết vấn đề đó, nếu chủ doanh nghiệp không giải quyết thoả đáng thì phải kịp thời báo cáo lên công đoàn cấp trên.
Thực tiễn những năm gần đây các cuộc đình công đã xảy ra với số lượng, quy mô ngày càng lớn cũng như với tính chất ngày càng phức tạp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, gây chú ý lớn đến dư luận xã hội. Tôi nhận thấy, một số quy định của Luật Công đoàn hiện nay bộc lộ nhiều hạn chế, không phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là hoạt động đặc thù của doanh nghiệp. Để góp phần bảo vệ quyền lợi người lao động và hạn chế được các cuộc đình công, ở khía cạnh quy định của pháp luật, cần xem xét để sửa đổi một số quy định. Trong các quy định của pháp luật Việt Nam, tổ chức Công đoàn có một vị trí đặc biệt quan trọng, là cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, đồng thời là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động – người có vị thế yếu thế so với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
Xuất phát từ những điều nói trên, tôi đã chọn đề tài: “Vai trò của tổ chức công đoàn trong các cuộc đình công theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài tiểu luận thực tập của mình với mong muốn nâng cao vai trò của Công đoàn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam
[1] Nguyễn Ái Quốc, xuất bản vào năm 1927, tác phẩm “Đường cách mệnh”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia- Sự thật, trang 28.
[2] Ủy ban dự thảo Hiến pháp, Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://vietlaw.quochoi.vn/Pages/vbpq-toan-van.aspx?ItemID=26611, thảm khảo ngày 15/05/2024.


