TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đối với bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào thì việc bày tỏ lòng biết ơn, tưởng nhớ và tôn vinh những vị anh hùng, tướng sĩ, người có công trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, xây dựng và bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ là điều cần được duy trì và phát triển. Sự hy sinh, đóng góp của mỗi người cha ông đi trước, dù lớn hay nhỏ đều là những điều vô cùng trân quý và phải được xã hội tôn trọng và công nhận. Các quốc gia cũng đều ghi nhận công lao và sự tận tụy với đất nước của họ đối với lịch sử nước nhà.
Từ những ngày đầu thành lập đất nước, ngay cả những ngày tháng khó khăn nhất trong giai đoạn lịch sử tổ quốc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác thương binh, liệt sỹ. Chính vì vậy, nhằm duy trì truyền thống tốt đẹp của dân tộc, Sắc lệnh số 20/SL quy định về “Ưu đãi người có công” được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành để đề ra các chính sách chế độ đối với các đối tượng là người có công với cách mạng. Trong suốt thời gian phát triển đất nước, chính sách ƯĐXH đối với người có công đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế nhiều lần nhằm phù hợp với từng thời kỳ cách mạng và cho đến khi thời bình, chính sách này được thực hiện dưới hình thức Pháp lệnh (văn bản hiện hành là Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2020) và nội dung của quy định được thực hiện phù hợp với các chính sách kinh tế xã hội và phù hợp với thực tiễn cuộc sống của các đối tượng người có công.
Trên thực tế, số lượng đối tượng hưởng chế độ ƯĐXH đối với người có công với cách mạng tại Việt Nam rất lớn, nên việc thi hành chính sách ƯĐXH này vẫn còn tồn đọng nhiều khó khăn, tùy vào điều kiện tại mỗi địa phương, việc thực hiện chính sách còn có một số mặt hạn chế nhất định. Để xây dựng những biện pháp phát hiện nhanh chóng những tồn đọng đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/07/2012 để quy định chi tiết, cụ thể về nghiệp vụ theo dõi thi hành pháp luật với hy vọng tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi hành pháp luật nói chung, pháp luật về ƯĐXH nói riêng.
Nhằm thực hiện Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, Nghị định số 32/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, Thông tư số 04/2021/TT-BTP của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Quyết định số 49/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành các Kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật hàng năm và lập các đoàn kiểm tra liên ngành để thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương. Năm 2016 và năm 2018, Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh đã thực hiện kiểm tra một số vấn đề có liên quan tới lĩnh vực ƯĐXH đối với người có công và đạt được một số kết quả tích cực, nhưng cũng phát hiện ra những sai phạm trong quá trình thi hành tại các cơ quan được thực hiện kiểm tra. Ngoài ra, thông qua kết quả Đoàn kiểm tra và các cuộc khảo sát về việc thi hành chính sách ƯĐXH, Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc với vai trò chủ trì công tác theo dõi thi hành pháp luật, phát hiện ra những khó khăn trong đời sống của đối tượng người có công tại địa phương; nhanh chóng, kịp thời tham mưu xây dựng Nghị quyết, lập đề nghị xây dựng Nghị quyết trình cho UBND tỉnh trình Thường trực HĐND tỉnh ban hành các Nghị quyết về hỗ trợ, ưu đãi đối với người có công với cách mạng tại địa phương với nguồn kinh phí thực hiện được lấy từ nguồn ngân sách địa phương. Không chỉ vậy, trong khi thực hiện các Nghị định về công tác theo dõi thi hành pháp luật, Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc cũng nhận diện được một số vấn đề còn tồn đọng trong các quy định về việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật.
Với mục đích tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về ƯĐXH và pháp luật về công tác theo dõi thi hành pháp luật tại tỉnh Vĩnh Phúc để tìm hiểu về những hạn chế của những vấn đề lý luận và thực trạng trên nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật này. Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng công tác theo dõi thi hành pháp luật về ưu đãi xã hội tại Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp của bản thân.




