ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh kinh tế hàng hóa phát triển vượt bậc, vai trò của các loại hợp đồng kinh doanh, thương mại ngày càng được thể hiện rõ nét trong các mối quan hệ hợp tác nhằm mục đích lợi nhuận của các thương nhân, giúp họ bảo vệ hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như mối quan hệ đôi bên cùng có lợi trong môi trường kinh doanh.
Hiểu rõ được vai trò quan trọng của hợp đồng, pháp luật thương mại Việt Nam rất quan tâm quy định một số lượng lớn các điều luật cụ thể nhằm xây dựng một hành lang pháp lý vững chắc, tạo điều kiện tốt nhất để các thương nhân Việt Nam cũng như các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thể thuận lợi xây dựng các mối quan hệ thương mại lâu dài và bền vững. Cũng nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của các bên cũng như đảm bảo tính trung thực và thiện chí trong giao kết hợp đồng thương mại, pháp luật Việt Nam cũng quan tâm xây dựng những quy định riêng biệt nhằm đảm bảo thực hiện đúng các nội dung đã giao kết trong hợp đồng, tạo sự tin tưởng cho các bên giao kết, hạn chế các thiệt hại trong thực tế với mục đích các bên cùng đạt được lợi ích mình mong muốn có được từ hợp đồng.
Mặc dù thường được xây dựng hết sức chặt chẽ và các đối tác phần lớn cũng đều mong muốn thực hiện thật tốt các nội dung của hợp đồng nhằm thu được lợi nhuận tuy nhiên vẫn có những trường hợp không mong muốn dẫn đến thiệt hại trên thực tế cho một trong các bên. Trong trường hợp đó, căn cứ trên cơ sở pháp lý xác định, pháp luật thương mại Việt Nam cho phép một trong các bên hoặc cơ quan tài phán do các bên lựa chọn có thể yêu cầu áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng thương mại. Chế tài hủy bỏ hợp đồng thương mại được xem là chế tài cuối cùng và là một chế tài nghiêm khắc nhất về mặt hậu quả pháp lý. Do đó, pháp luật thương mại Việt Nam quy định rất rõ ràng, cụ thể về các căn cứ pháp lý, hậu quả phát sinh cũng như quá trình xử lý tranh chấp khi áp dụng chế tài này. Những quy định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam có thể xem là rất tiến bộ, nhưng bên cạnh đó vẫn có một số quy định chồng chéo, không rõ ràng, khuyết thiếu dự kiến đối với một số trường hợp xảy ra trong thực tế chưa hoàn toàn tương thích với các Điều ước thương mại quốc tế liên quan mà Việt Nam tham gia có thể kể đến như Công ước viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dẫn đến chưa thực sự mang lại hiệu quả cao khi được lựa chọn áp dụng. Cũng chính bởi vì sự nghiêm trọng của chế tài hủy bỏ hợp đồng cũng như hậu quả mà nó gây ra cho các mối quan hệ kinh doanh, thương mại nói riêng và môi trường thương mại nói chung, việc nghiên cứu nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể, rõ ràng và tiến bộ hơn trong vấn đề này và để phù hợp với các quy định của các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia trong hoạt động thương mại chung đó là cần thiết và cấp bách nhằm tạo ra một hệ thống cơ sở pháp lý vững chắc và toàn diện hơn, hỗ trợ hiệu quả cho các bên trong kinh doanh, thương mại có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như xây dựng một môi trường kinh doanh an toàn và lành mạnh. Vì lẽ đó, tác giả đã chọn đề tài: “Hủy bỏ hợp đồng theo Công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình.

