LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết thì hợp đồng là một công cụ vừa chia sẻ lợi ích, vừa là công cụ chia sẻ rủi ro, tại thời điểm giao kết hợp đồng lợi ích của hai bên là ngang bằng nhau vì họ đã tự nguyện thỏa thuận, đôi bên cùng có lợi. Theo đó, yêu cầu các bên trong hợp đồng không chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà còn quan tâm đến lợi ích của đối tác để cả hai cùng có lợi và bình đẳng ở góc độ nào đó. Nguyên tắc này xuất phát từ nhận thức các bên tham gia sẽ chỉ ký hợp đồng nếu có lợi, và vì vậy nếu một bên không những không được lợi mà còn thiệt hại thì sẽ chẳng cần tham gia. Trong hơp đồng nếu không quy định quyền thương lượng lại, thì dựa trên nguyên tắc thiện chí, các bên vẫn có thể thương lượng lại hợp đồng để cân bằng lợi ích khi một bên bị thiệt hại lớn do sự thay đổi của bối cảnh. Do vậy, việc ghi nhận quyền thương lượng lại không phải là vô nghĩa và hoàn toàn không trái với bản chất của hợp đồng – một sự thỏa thuận có lợi cho các bên tham gia. Ngoài ra, hợp đồng được thiết lập hợp pháp thì có hiệu lực như pháp luật đối với các bên từ thời điểm giao kết mà các bên không được tự ý sửa đổi, hay hủy bỏ. Đây chính là yêu cầu mang tính bản chất của hiệu lực hợp đồng và là nội dung cơ bản của nguyên tắc hiệu lực bất biến trong lĩnh vực hợp đồng. Tuy nhiên, xã hội luôn vận động kéo theo sự thay đổi của nhiều thứ, hợp đồng cũng không cũng nằm ngoài quy luật đó. Vì thế mà cần có một cơ chế điều chỉnh khi mà trong quá trình thực hiện hợp đồng có những điều kiện thay đổi gây trở ngại hay khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng. Vì thế mà xuất hiện điều khoản gọi là hardship.
Qua bài tiểu luận này, ta cùng đi tìm hiểu, phân tích Điều khoản Hardship trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế trên hai phương diện, đó là quy định của pháp luật về Điều khoản Hardship trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và những lưu ý khi vận dụng Điều khoản Hardship đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi đàm phán, soạn thảo Hợp đồng Thương mại quốc tế hiện nay.

